I. Sự cần thiết xây dựng chính sách
1. Cơ sở chính trị, pháp lý
Trong thời gian qua, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Chính phủ trong công tác ký kết và thực hiện thỏa thuận quốc tế (TTQT) được thể hiện trong nhiều Nghị quyết và văn bản quan trọng, trong đó nổi bật là:
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, công bằng, dân chủ, minh bạch, khả thi, ổn định để tạo lập nền tảng cho hệ thống quản lý, quản trị phát triển hiện đại, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển các lĩnh vực mới, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc; khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh và nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước”; “Xây dựng, hoàn thiện thể chế quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới, tập trung là thể chế hoá đầy đủ, đồng bộ các quan điểm, đường lối của Đảng về các lĩnh vực này để xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Bổ sung, hoàn thiện thể chế để phát huy cao nhất vai trò của 3 trụ cột: Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, tạo sức mạnh tổng hợp của nền ngoại giao Việt Nam tiên phong, toàn diện, hiện đại.
Báo cáo chính trị Đại hội XIV khẳng định quan điểm chỉ đạo xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới về “đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”; “Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại”; “rà soát, đôn đốc triển khai thực hiện hiệu quả các cam kết, thỏa thuận quốc tế”. Báo cáo cũng xác định nhiệm vụ trọng tâm, đột phá về “đẩy mạnh triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả công tác đối ngoại; nâng tầm và phát huy vai trò đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân trong việc kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác, tạo môi trường thuận lợi phát triển đất nước”.
- Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới chỉ rõ yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đồng bộ, toàn diện, sâu rộng và hiệu quả nhằm phát huy tiềm năng, thế và lực mới của đất nước, tạo động lực quan trọng để phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm từ xa.
- Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Hội nghị lần 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp, cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) và cấp xã (xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh), kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện, sau khi sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy sẽ hợp nhất một số tỉnh thì UBND cấp huyện cũng không còn là chủ thể để ký kết TTQT theo
luật hiện hành.
- Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Theo đó, quan điểm chỉ đạo xây dựng pháp luật nhằm “nắm bắt mọi cơ hội, mở đường, khơi thông mọi nguồn lực, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “hai con số”, nâng cao đời sống
của Nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước”.
- Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới yêu cầu “tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc, khơi dậy, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững của đất nước”.
- Thể chế hóa quan điểm “thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, hợp lý giữa Trung ương và địa phương; giữa cấp trên và cấp dưới, gắn quyền hạn với trách nhiệm”; “đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương, bảo đảm đủ điều kiện, nguồn lực để thực hiện, nâng cao vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương” tại Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Công văn số 48/BCĐTKBQ18 ngày 03/5/2025 của Ban Chỉ đạo về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW của Chính phủ về việc đẩy mạnh phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và triển khai mô hình chính quyền địa phương 02 cấp.
- Chỉ thị số 56/CT-TW ngày 24/12/2025 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác ký kết, thực hiện các cam kết quốc tế, trong đó yêu cầu “Rà soát, hoàn thiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cải tiến quy trình để tạo điều kiện thuận lợi cho việc ký kết, thực hiện cam kết quốc tế; tăng cường quản lý nhà nước, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tỉnh giản thủ tục hành chính để tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế trong công tác ký kết, thực hiện cam kết quốc tế…”
- Quy định số 392-QĐ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại.
- Quy định số 178-QĐ/TW ngày 27/6/2024 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền, lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.
- Kết luận số 226-KL/TW ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư về việc chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, theo đó chỉ đạo về đổi mới, nâng cao chất lượng công tác ban hành văn bản theo hướng đơn giản hóa và rút gọn; bảo đảm các văn bản được ban hành đúng thẩm quyền, đúng thể thức, kỹ thuật trình bày; nội dung văn bản phải ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu, rõ mục tiêu; các giải pháp, chính sách đề ra phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn và thống nhất, đồng bộ với các quy định của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước; Kết luận số 119-KL/TW ngày 20/01/2025 của Bộ Chính trị về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật.
- Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (khoản 4 Điều 1); Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 về việc tổ chức chính quyền địa phương hai cấp (Điều 1); Nghị định số 303/2025/N Đ-CP ngày 19/11/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan ngang bộ quy định về cơ cấu tổ chức của Bộ không còn quy định cấp Tổng cục (Điều 5). Do đó, cần sửa đổi các quy định liên quan của Luật TTQT năm 2020 để bảo đảm thực hiện đồng bộ, thống nhất.
- Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh đi vào thực tiễn triển khai đồng bộ, toàn diện, chính thức hoạt động từ ngày 01/7/2025, theo đó, sau khi sắp xếp cả nước có 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 06 thành phố.
- Nghị quyết số 250/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế quy định về (i) tham gia tổ chức, diễn đàn hợp tác đa phương không thông qua ký kết điều ước quốc tế, TTQT; và (ii) Cơ sở dữ liệu quốc gia về cam kết quốc tế bao gồm TTQT của Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, cơ quan nhà nước ở trung ương và cấp tỉnh… trên cơ sở nâng cấp, mở rộng Cơ sở dữ liệu về điều ước quốc tế.
- Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước quy định: “Cơ quan, người có thẩm quyền phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn để xử lý các văn bản chịu sự tác động do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, bảo đảm hoàn thành trước ngày 01 tháng 3 năm 2027.”
- Nghị định số 134/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực đối ngoại đã quy định về phân cấp thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định việc ký kết TTQT nhân danh Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan nhà nước cấp tỉnh trong trường hợp cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến không đồng ý việc ký kết TTQT, sau khi có ý kiến đồng ý bằng văn bản của Bộ Ngoại giao (Điều 9, 10); phân cấp thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong nhiệm vụ tiếp nhận báo cáo về TTQT được ký kết (Điều 11). Do đó, các quy định này cần được “luật hóa” nhằm bảo đảm hiệu lực thực thi lâu dài, ổn định.
- Thời gian qua các Luật liên quan được sửa đổi, bổ sung, thay thế như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Thanh tra… Do đó, cần thiết sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của Luật TTQT nhằm bảo đảm đồng bộ hệ thống pháp luật.
2. Cơ sở thực tiễn
Luật Thỏa thuận quốc tế số 70/2020/QH14 (Luật TTQT năm 2020) được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2020, có hiệu lực từ ngày 01/7/2021. Kể từ ngày Luật có hiệu lực, Pháp lệnh số 33/2007/UBTVQH11 về ký kết và thực hiện TTQT hết hiệu lực. Sau khi Luật được ban hành, Chính phủ đã ban hành các Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật.1 Luật và các Nghị định hướng dẫn thi hành đã tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan, địa phương, tổ chức tham gia vào quá trình ký kết và thực hiện TTQT. Luật đã tạo khung pháp lý chặt chẽ, linh hoạt, nhấn mạnh quyền chủ động của các cơ quan trong đề xuất ký kết và triển khai thực hiện TTQT đi kèm với trách nhiệm, đáp ứng nhu cầu ký kết và thực hiện TTQT phù hợp với lợi ích của đất nước. Luật đã lần đầu tiên xây dựng quy trình thủ tục rút gọn nhằm đẩy nhanh tiến độ ký kết TTQT, đáp ứng yêu cầu đối ngoại, qua đó giúp tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển. Đáng chú ý, Luật TTQT năm 2020 đã mở rộng đối tượng điều chỉnh đến cấp Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước, đồng thời bao quát cả các cấp đơn vị trực thuộc (gồm: Tổng cục, cục thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh; UBND cấp huyện; UBND cấp xã ở khu vực biên giới; cơ quan cấp tỉnh của tổ chức).
Trong thời gian qua, các TTQT được ký kết và thực hiện theo quy định của Luật TTQT năm 2020 và các Nghị định hướng dẫn thi hành đã đóng góp tích cực cho công cuộc hội nhập quốc tế sâu rộng của đất nước, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta.
Sau 5 năm thực hiện, Luật đã phát sinh các vướng mắc, bất cập, cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực thực thi.
Thứ nhất, vướng mắc trong quy định về chủ thể ký kết TTQT.
Thứ hai, trình tự, thủ tục ký kết TTQT còn trải qua nhiều bước, chưa đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế của các cơ quan, chưa đáp ứng yêu cầu phân cấp, phân quyền trong công tác thỏa thuận quốc tế.
Thứ ba, cần sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về công tác TTQT.
Thứ tư, việc triển khai thực hiện chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước và áp dụng mô hình chính quyền địa phương hai cấp, bỏ chính quyền cấp huyện từ 01/7/2025 dẫn đến thay đổi về chủ thể ký kết TTQT như Tổng cục, chính quyền cấp huyện.
Từ những lý do trên, việc rà soát, xem xét sửa đổi Luật TTQT một cách tổng thể là nhu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất, phù hợp của hệ thống pháp luật, khẩn trương khắc phục các vướng mắc trong Luật TTQT hiện hành.
II. Mục tiêu, nội dung của chính sách
Luật TTQT (sửa đổi) quy định 3 chính sách lớn với mục tiêu và nội dung cụ thể như sau:
1. Chính sách 1: Hoàn thiện quy định về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật
a) Mục tiêu của chính sách
- Quy định phù hợp về phạm vi điều chỉnh của Luật là các chủ thể ký kết TTQT nhằm đáp ứng nhu cầu công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế của các cơ quan, tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, đồng thời bảo đảm yêu cầu quản lý tập trung của Nhà nước đối với hoạt động đối ngoại và yêu cầu công tác quản lý nhà nước về ký kết TTQT.
- Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật và quy định hiện hành và thực tế sắp xếp tổ chức bộ máy, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay.
b) Nội dung của chính sách
Xác định rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật đáp ứng yêu cầu đối ngoại, hội nhập quốc tế trong tình hình mới và yêu cầu quản lý thống nhất hoạt động đối ngoại.
c) Các giải pháp thực hiện chính sách
Ban hành Luật TTQT (sửa đổi) thay thế Luật hiện hành; mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của Luật, theo đó bổ sung một số chủ thể ký kết TTQT.
Luật không điều chỉnh việc ký kết, thực hiện thỏa thuận về vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi nước ngoài theo pháp luật về quản lý, sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu đãi nước ngoài và pháp luật về quản lý nợ công; thỏa thuận về cho vay, viện trợ của Việt Nam cho nước ngoài theo pháp luật về cho vay, viện trợ của Việt Nam cho nước ngoài; thỏa thuận về viện trợ không hoàn lại không thuộc hỗ trợ phát triển chính thức của cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài theo pháp luật về viện trợ không thuộc ODA; hợp đồng theo pháp luật về dân sự; hợp đồng dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư thực hiện theo pháp luật về đầu tư.
Bổ sung quy định chuyển tiếp, bao gồm các quy định tại Nghị định 177/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các Nghị định trong lĩnh vực thỏa thuận quốc tế; xử lý một số vấn đề liên quan đến việc tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và sắp xếp tổ chức bộ máy trong lĩnh vực thỏa thuận quốc tế.
2. Chính sách 2: Đơn giản hóa quy trình, thủ tục, tăng cường phân cấp, phân quyền
a) Mục tiêu của chính sách
- Bảo đảm phù hợp với chủ trương chung của Đảng và Nhà nước, theo đó Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, xác định rõ trách nhiệm giữa Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, các bộ, ngành với chính quyền địa phương…”2; Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017, Hội Nghị Trung ương 6 khóa XII, về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” chủ trương: “Thực hiện phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, hợp lý giữa Trung ương và địa phương, giữa cấp trên và cấp dưới, gắn quyền hạn với trách nhiệm…”
- Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với quy định về phân cấp, phân quyền của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật).
- Rút gọn, đơn giản hoá thủ tục hành chính nội bộ giúp đẩy nhanh quy trình, thủ tục xin phép ký kết TTQT, nhất là trong trường hợp gấp, phục vụ các chuyến thăm cấp cao, đáp ứng yêu cầu đối ngoại, đồng thời giảm thời gian, nguồn lực triển khai thủ tục ký kết
- Đảm bảo sự thông suốt, tránh chồng chéo, trùng lặp quy trình giữa các kênh đối ngoại, đồng thời tăng hiệu quả ký kết và thực hiện TTQT.
b) Nội dung của chính sách
Rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định về quy trình, thủ tục nhằm đơn giản hóa thủ tục, tăng cường phân cấp, phân quyền, trong công tác ký kết, thực hiện TTQT, đáp ứng yêu cầu đối ngoại, hội nhập quốc tế trong tình hình mới.
c) Các giải pháp thực hiện chính sách
Luật quy định khung về nguyên tắc ký kết và thực hiện TTQT, quy định về các nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội; giao Chính phủ quy định chi tiết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Chính phủ; tăng cường trách nhiệm, quy định nội bộ của các Bộ, ngành, địa phương để tăng sự chủ động thực hiện, giảm tải áp lực cho các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước; luật hoá quy định của Nghị định 134/2025/NĐ-CP về phân quyền, phân cấp trong công tác ký kết TTQT; rút gọn, đơn giản hóa quy trình, thủ tục về ký kết trong các trường hợp cụ thể và bổ sung một số trường hợp đặc thù đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
3. Chính sách 3: Nâng cao hiệu quả thực hiện TTQT và quản lý nhà nước, tăng cường bảo đảm nguồn lực cho công tác ký kết, thực hiện TTQT
a) Mục tiêu của chính sách
Nâng cao hiệu quả thực hiện TTQT và hiệu quả công tác quản lý nhà nước về TTQT; tăng cường bảo đảm nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí cho công tác TTQT.
b) Nội dung của chính sách
- Hoàn thiện quy định về nguyên tắc ký kết TTQT; bổ sung quy định nhằm tạo thuận lợi cho các cơ quan trong áp dụng và phân biệt giữa điều ước quốc tế và TTQT
- Ứng dụng khoa học công nghệ trong ký kết, thực hiện và quản lý nhà nước về TTQT.
- Hoàn thiện quy định về trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong tổ chức thực hiện, theo dõi, đôn đốc, giám sát việc ký kết, thực hiện TTQT, báo cáo về công tác ký kết và thực hiện TTQT bảo đảm yêu cầu “hậu kiểm”.
- Tăng cường bảo đảm nguồn lực cho công tác ký kết và thực hiện TTQT; cho phép huy động các nguồn tài trợ hợp pháp.
c) Giải pháp thực hiện chính sách
Quy định về nội dung bắt buộc của TTQT và bổ sung nguyên tắc ký kết TTQT theo hướng bảo đảm tính khả thi và có lộ trình, biện pháp thực hiện rõ ràng; xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTQT; áp dụng ký TTQT bằng hình thức điện tử; quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong cho ý kiến về việc ký kết TTQT; tăng cường quy định về trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, thực hiện và giám sát TTQT; bảo đảm về nguồn lực cho công tác ký kết TTQT.
Trên đây là các nội dung truyền thông chính sách của dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), Bộ Ngoại giao xin trân trọng thông tin./.




